|

Trịnh Công Sơn - chỉ cần một cái tên, không kèm theo chức danh
hay một lời chú giải nào cả, th́ công chúng của hơn hai thập niên cuối thế
kỷ XX, từ già đến trẻ, từ trí thức đến người lao động b́nh thường... hầu như
ai cũng biết ông là ai.
ông là ai? Giới vǎn nghệ sĩ thân ái gọi ông là:
Người thơ ca (Vǎn Cao), Người t́nh lăng du của nhiều thế hệ
(Hoàng Phủ Ngọc Tường), Thiền sư du ca (Đỗ Minh Tuấn), ông hoàng
t́nh ca (Nguyễn Trọng Tạo), Thi sĩ của âm nhạc, hay Nhạc sĩ
của thi ca. C̣n ông trả lời theo cách riêng: "Tôi chỉ là tên hát rong đi
qua miền đất này để hát lên những linh cảm của ḿnh về những giấc mơ đời hư
ảo...".
Chẳng phải vô cớ nhiều nhà thơ đă gọi Trịnh Công Sơn là thi sĩ. Ca từ trong
nhiều bài hát của ông tách rời khỏi giai điệu vẫn đẹp như một bài thơ. Riêng
điều đó đă cho thấy vị trí ca từ đặc biệt đến mức nào trong nhạc Trịnh.
Nổi lên trong nội dung lời ca của Trịnh Công Sơn là các chủ đề: t́nh yêu -
quê hương - thân phận. Ranh giới giữa các chủ đề không phải lúc nào cũng
phân định rơ ràng. Trong quê hương có Em, trong t́nh yêu Em có t́nh yêu xứ
sở. Trong t́nh yêu cho riêng Em, cũng như trong t́nh yêu nhân thế luôn có
Tôi, gắn liền với thân phận Tôi, thân phận một đời người, và đôi khi, thân
phận một đất nước.
1. Thân phận
Cái làm cho ca khúc Trịnh Công Sơn độc đáo khác thường, trước hết là nhờ
nhân vật "Tôi". Cái Tôi xuyên suốt mọi chủ đề, và h́nh ảnh Tôi hiện lên trọn
vẹn nhất trong những bài hát nói về thân phận, về kiếp luân hồi và giải
thoát bản ngă.
Tôi là ai? Đă hơn một lần, nhân vật Tôi ấy lặng lẽ nh́n lại ḿnh. Phải trả
giá bằng những nǎm tháng trẻ thơ đầy ảo tưởng, "ngày nay không c̣n bé" tôi
mới "chợt nh́n ra tôi", thấy tôi như chiếc bóng phai mờ, như vết mực nḥe,
như ḥn đá nặng "t́nh cờ rớt xuống mịt mùng", và tôi cứ "trôi trong cuộc
đời... không chờ ai".
Trời cao đất rộng
Một ḿnh tôi đi
Một ḿnh tôi đi
Đời như vô tận
Một ḿnh tôi về
Một ḿnh tôi về với tôi
(Lặng lẽ nơi này)
Hết âm thầm gơ buồn gót chân hành hương
bóng đổ một ḿnh tôi, tôi lại khép cửa quỳ bên vết thương, nhốt ḿnh trong
cǎn gác đ́u hiu, soi bóng ḿnh giữa tường trắng lạnh câm, rồi một hôm chợt
thấy hoang vu quanh ḿnh mà thốt lên: "ô hay ḿnh vẫn cô liêu!".
Hiu quạnh, lạnh lùng, im vắng, tịch lặng, bǎng giá, xa lạ, xa vắng, lặng
câm, hư vô, hun hút, lẻ loi, âm u, lạnh lẽo, bơ vơ, lạc loài... Bao nhiêu
tính từ kiểu đó cứ chồng chéo, vây bủa lấy thân phận Tôi, đan kết thành một
tấm lưới khổng lồ vô h́nh có tên là Cô đơn.
Nhiều người đă nói đến màu sắc của triết lư Phật giáo và triết học hiện sinh
trong ca từ Trịnh Công Sơn. Chẳng phải ông đă từng thú nhận: "Tôi vốn thích
triết học và v́ thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của ḿnh" đó
sao. Nhưng đây là "một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu
được như ca dao hoặc những lời ru con của mẹ". Chẳng phải ông đă cho rằng:
"Hiện sinh chân chính đâu phải xấu", và "bậc thượng thừa của hiện sinh chính
là ông Phật". Nhưng hoàn toàn không phải kiểu hiện sinh sống gấp và phản
kháng bằng nổi loạn đập phá, mà là "một sự phản kháng tiềm tàng trong suy
nghĩ", để được "sống b́nh tĩnh trong từng sát na", thức tỉnh và ơn đời.
Một phát hiện của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, người bạn gần gũi từ nhỏ của
Trịnh Công Sơn: nỗi đau phận người được nhà Phật gói lại trong bốn từ "sinh
- lăo - bệnh - tử" đều có mặt trong lời ca của Trịnh Công Sơn.
Đúng vậy. Chẳng mấy khó khǎn để lượm nhặt đủ bốn chữ của nhà Phật trong lời
ca của "vị thiền sư" này. Chữ "sinh" ẩn náu trong "cây non trên núi đầu
thai", lẩn khuất trong "tiếng khóc cười của bào thai". Chữ "sinh"
nằm trong hạt bụi "vươn h́nh hài lớn dậy", cất lên "tiếng khóc ban
đầu", để báo "tin buồn mẹ cho mang nặng kiếp người".
Vừa sinh ra, con người đă lập tức khởi đầu một quá tŕnh lăo hóa. "Từng
tuổi xuân đă già", để "chợt một chiều tóc trắng như vôi" và chấp
nhận "có một bạc đầu tôi đi, tôi đi". Chữ "lăo" chập chờn trên
"lau trắng trong tay", trên "tóc người ḍng sông xưa ấy đă phai".
Chữ "lăo" được viết trên chiếc lá thu phai, trên mặt trǎng đă già, trên cuộc
đời đă phủ rêu phong.
Đời người là một nỗi đau triền miên, với những "cơn đau chưa dài" và
những "cơn đau lên đầy". Những cơn đau dài, đau vùi ấy đă khắc sâu
trǎm vết thương sầu cho một con tim tật nguyền, một thân thể mệt nhoài, gối
chân mê mỏi. Chữ "bệnh" như ám vào tấm "thân đau muốn nằm", vào
"từng chiều lên hấp hối".
Dấu chấm cho một kiếp rong chơi trên cơi tạm là cái chết. Cái chết không
khoác áo choàng đen, mang bộ mặt khủng bố bên lưỡi hái lạnh lùng. Với Trịnh
Công Sơn, cái chết quen thuộc như một chốn trở về nghỉ ngơi sau chuyến đi
hoang tạm bợ:
Tôi nay ở trọ trần gian
Trǎm nǎm về chốn xa xǎm cuối trời
(Ở trọ)
Nhiều người nhận thấy Trịnh Công Sơn hay
"nói dại miệng" về chuyện "nằm xuống". Cứ như thể biết trǎm nǎm chỉ ở đậu
ngàn nǎm, nên ông sốt ruột "c̣n bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây,
c̣n bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này".
Luôn quan tâm đến cái ngày "thân xác không c̣n", chẳng phải v́ chán
sống, trái lại, ông "nghĩ đến cái chết nhiều là v́ quá yêu cuộc sống". Mà
cái chết lại rất gần gũi sự sống, ngay "trong xuân th́" ông đă thấy "bóng
trǎm nǎm" rồi. Chữ "tử" cứ treo lơ lửng trong giấc ngủ, để giật ḿnh tỉnh ra
lại nói gở: "Thí dụ bây giờ tôi phải đi, tôi phải đi chia ly cùng đời sống".
ông muốn nh́n nhận cái ngày về nơi cuối trời làm mây trôi đó một cách b́nh
tĩnh, không sợ hăi, không ân hận. Cũng tự nhiên như "lá úa trên cao rụng
đầy", cái việc "cho trǎm nǎm vào chết một ngày" được đón nhận
bằng một thái độ b́nh thản "ḷng không buồn mấy", hệt như một giấc mơ
"tôi thấy tôi qua đời" mà thôi.
Giải thoát khỏi nỗi sợ chết bằng cách chuẩn bị trước cho ḿnh một cái chết
nhẹ nhàng, không thắc mắc ǵ cả, "một cái chết như vậy cũng giống như cái
sống". Để ư nghĩa sự sống vượt qua cột mốc của cái chết, để một đời người
nối dài tới cơi hư vô, c̣n có cách ǵ hơn sống trọn vẹn cho hiện tại, sống
với một tấm ḷng. Đó chính là chữ "tâm", chữ "t́nh" mà Trịnh Công Sơn muốn
gửi lại cho đời, muốn "trao đến muôn loài chút t́nh tôi".
Để đến với đời, trước hết phải biết lắng nghe. Tôi không chỉ lắng nghe tôi,
nghe buồn vui trong ḿnh, mà c̣n lắng nghe đất trời trở ḿnh hú than, nghe
tiếng muôn trùng, nghe im lặng của đêm ngày, của t́nh người, nghe đời nhấp
nhô, nghe đời mênh mông.
Lắng nghe, cảm nhận, để hóa thân thành muôn loài: tôi đă biến ḿnh thành lá
cỏ hay nụ hồng, đốm lửa hay ngọn đèn, thác đổ hay mưa tan, con chim hay đứa
trẻ.
Khát vọng được ḥa đồng, chia sẻ với đời đă biến "em là tôi và tôi cũng
là em", đă cứu rỗi tôi trong cơn tuyệt vọng. Dù cho thân phận là mong
manh và sự sống là hữu hạn, tôi vẫn xin "tạ ơn người, tạ ơn đời, tạ ơn
ai".
Cái Tôi càng hay triết lư sự đời trong những bài hát ở giai đoạn sau này.
Những "lư sự" ấy vừa ngấm chất thiền, vừa quẩn quanh trong nhiều cái tiến
thoái lưỡng nan, vừa rất giản đơn sau nhiều cái ngộ ra ở tuổi già, lại vừa
mang nét ngộ nghĩnh bất ngờ của trẻ thơ.
Bao nhiêu nǎm rồi c̣n măi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
(Một cơi đi về)
Biển sóng biển sóng đừng xô tôi
Ta xô biển lại sóng về đâu
(Sóng đừng xô tôi)
2. Quê hương
Thực ra quê hương cũng vẫn là thân phận và t́nh yêu, nhưng không của một
người, mà mang tính bao quát hơn: t́nh yêu cho nhiều người và thân phận của
nhiều người - cho quê hương và của quê hương.
T́nh yêu quê hương chính là t́nh yêu đồng loại, t́nh yêu thiên nhiên, đất
trời. Không chỉ là người t́nh của con người, Trịnh Công Sơn c̣n tự coi ḿnh
là một "người t́nh của thiên nhiên".
Có những t́nh yêu t́m thấy
Từng ngọn núi con sông ruộng vườn
Từng ḍng suối con sông đầu làng
Đă mang h́nh bóng quê hương
...T́m thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá
Góc phố nào cũng thấy quê nhà.
(T́nh yêu t́m thấy)
Thiên nhiên gắn bó với từng buồn vui đời người. Trong cô đơn, Trịnh Công Sơn
đâu chỉ có gọi em, ông c̣n mê mải gọi tên bốn mùa, gọi nắng, gọi mưa. Thiên
nhiên b́nh đẳng với người trong sự sống. Nắng hờn ghen, rồi nắng chết trên
sông dài. Đồi núi thắp nắng đứng ngóng, cứ nghiêng nghiêng đợi chờ cho đến
lúc người về để đồi núi reo ca. Ḍng sông chở hồn thương đau, chở ngày hấp
hối, rồi ḍng sông cũng qua đời. Mặt trời lẻ loi, cúi nh́n mây bay buồn rầu.
ông đă nghe gió tự t́nh, gió thở dài, đă thấy từng giọt sương nhỏ nhoi mà
thu nổi vào ḿnh hết cả mênh mông, đă cảm được nỗi đau của bia đá, để hiểu
rằng sỏi đá cũng cần có nhau.
Trong những bài hát về chiến tranh, h́nh ảnh quê hương bị mất hết vẻ lung
linh thơ mộng. Quê hương đắm ch́m trong tiếng nổ: tiếng nổ nghe quen như câu
dạo buồn, đại bác ru đêm thay tiếng mẹ ru, người già co ro buồn nghe bom nổ,
trẻ con quên lớn để từng đêm nghe ngóng. Quê hương phủ một màu tang tóc:
người con gái chưa từng hát ca dao một lần đă thành kẻ mất trí lên đồi cao
hát trên những xác người, người mẹ mê sảng ḥ ơ ru con, đứa con đă ngủ vĩnh
viễn trong tuổi đôi mươi.
Chiến tranh đem đến những câu chuyện ngụ ngôn lạnh lùng:
Một ngày mùa đông
Trên con đường ṃn
Một chiếc xe tang
Trái ḿn nổ chậm
Người chết hai lần
Thịt da nát tan
(Ngụ ngôn mùa đông)
Cái chết tự nhiên của một kiếp người không đáng sợ. Nhưng cái chết nhan nhản
khắp mọi nơi trong chiến tranh sao mà hăi hùng và oan nghiệt đến thế: chết
vội vàng, chết vô t́nh, chết lạnh lùng, chết nghẹn ngào, chết cong queo.
Trong chiến tranh, t́nh yêu quê hương, t́nh yêu con người càng sâu nặng,
khát khao ḥa b́nh càng cháy bỏng. Từ trong đau thương mất mát, cái nh́n
nhân bản của Trịnh Công Sơn đă vượt qua tất cả, thời gian, khoảng cách, hận
thù, để thấy một ngày tương lai người Việt gần nhau trong tiếng nói da vàng,
cùng nhau đi khâu vá non sông Việt Nam, để mỗi con người đều được yêu được
sống trọn vẹn một ṿng Sinh Tử.
Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay
Ta đi ṿng tay lớn măi cho hết sơn hà
Mặt đất nguy nga anh em ta về
Gặp nhau mừng như băo cát quay cuồng trời rộng
Bàn tay ta nắm nối liền một ṿng Tử Sinh
Biển xanh sông gấm nối liền một ṿng Việt Nam
(Nối ṿng tay lớn)
3. T́nh yêu
Bắt đầu sự nghiệp sáng tác của ḿnh bằng những t́nh khúc, Trịnh Công Sơn đă
gặt hái nhiều thành công từ những bài hát về những mối t́nh không thành
công, gần như đơn phương của ḿnh. Như có lần ông đă thổ lộ: "Tôi chỉ có
những mối t́nh lăng đăng, sương khói, hoàn toàn không có ǵ cụ thể". Yêu
thầm một mái tóc, một dáng h́nh, để khi từng mối t́nh khói mây ấy "bỏ ta đi
như những ḍng sông nhỏ" th́ cuối cùng ở lại chỉ c̣n một nỗi đau rất thật.
Bởi vậy, h́nh tượng người t́nh của Trịnh Công Sơn thật đẹp và buồn, thật
mảnh mai và xanh xao: xanh mướt hồng nhan, gầy yếu hư hao, ḿnh hạc xương
mai, nụ cười mong manh, mướt xanh như ngọc. Nếu thiên nhiên luôn mang t́nh
người, th́ người t́nh luôn được đối chiếu với vạn vật: đôi môi lửa cháy, mi
cong cỏ mượt, tay xanh ngà ngọc, đôi vai lụa mát, da thơm quả ngọt, và: từng
phiến mây hồng em mang trên vai, thân mong manh như lau sậy, như hoa lá giữa
thiên nhiên hiền ḥa. Cứ thế, chân dung Em được vẽ bằng cả đất trời: nắng
gió mây mưa...
Nắng có hồng bằng đôi môi em
Mưa có buồn bằng đôi mắt em
Tóc em từng sợi nhỏ
Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh
Gió sẽ mừng v́ tóc em bay
Cho mây hờn ngủ quên trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xôi.
(Như cánh vạc bay)
Đôi vai thon, gầy, ướt, mềm... lại phải gánh cả không gian - "biển rộng
hai vai", cả thời gian - "chở chiều trên vai", "một ngày trên
vai". Em đi vào đời người, t́nh người bằng những gót nhỏ, gót hồng, bằng
những bước chân nhè nhẹ, âm thầm, mềm mại.
Đă có tóc dài, bồng, xanh, mây, buông lơi..., em c̣n mang "tóc gầy"
và "tóc buồn". Em càng đẹp, buồn và hư ảo với những mắt biếc, mắt
sâu, mắt xanh xao, mắt cười mênh mông, với những môi thơm, môi mềm, môi hồng
đỏ, hồng đào, hồng vừa, hồng nhạt và hồng "như lá hư không".
Hơn tất cả mọi vai tóc mắt môi..., ấy là tay! Những ngón tay mǎng mềm, gầy,
muốt dài, biết ưu phiền và nuối tiếc, biết ngóng đợi rồi lăng quên. Tay em
vừa hiền vừa ác, vừa xây vừa phá, "kết nụ nuôi trọn một đời" hay
"dựng đời băo lên làm từng vết thương" cũng từ một "tay em" mà ra.
Cho nên, em yếu mềm, dịu dàng thật đấy, mà "một ngày thấy em là đời bỗng
đêm vây khốn, từng bước em là từng mũi đinh cuồng điên". Em chẳng an
phận một chiều trong mắt Tôi, khiến Tôi "nh́n một thành hai, nh́n em yêu
thương, nh́n em thú dữ".
Khắc khoải với T́nh nhớ, T́nh xa, T́nh sầu, Trịnh Công Sơn đưa ra
hàng loạt "định nghĩa" về t́nh bằng những h́nh ảnh so sánh rất Trịnh Công
Sơn, thực thực - ảo ảo: t́nh vừa mong manh như nắng, lại có sức tàn phá như
cơn băo đi qua địa cầu, t́nh lên cao vút như chim xa ĺa bầy, rồi lại ch́m
mau như bóng chim cuối đèo.
T́nh yêu của Trịnh Công Sơn, cũng giống như h́nh ảnh người con gái của ḷng
ông, đẹp và buồn. Một vẻ đẹp mong manh, dễ vỡ và một nỗi buồn lặng lẽ, rất
đỗi dịu dàng. Thêm một khía cạnh nữa cho bức chân dung Tôi: rất chân thành,
tận tụy và bao dung trong t́nh yêu. Một người đă từng vài lần ru đời, vừa
rơi lệ ru người vừa ngậm ngùi tự ru, th́ nhất định phải để dành nhiều lời ca
nhất để ru t́nh, ru em. Một người sẵn ḷng làm tất cả, làm hạt mưa giọt
sương hay cụm mây ngọn gió, làm cây đèn giọt mực hay giấc mộng nụ cười, cốt
để được thấy em yêu đời.
Tôi xin làm quán trọ, buồn chân em ghé chơi
...Tôi xin làm đá cuội và lǎn theo gót hài
(Biết đâu nguồn cội)
Tấm ḷng là một nét đẹp trong t́nh ca Trịnh Công Sơn. Cái đẹp c̣n được tạo
bởi một yếu tố khác: chất thơ. Nếu trong chủ đề thân phận trĩu nặng tính
triết lư, th́ không đâu trong ca khúc Trịnh Công Sơn lại đậm đặc chất thơ
như trong chủ đề t́nh yêu.
Chất thơ đầy ắp trong cảnh, trong t́nh. Nhờ con mắt thi sĩ - họa sĩ, Trịnh
Công Sơn đă nắm bắt được những gam màu lạ lùng: màu mắt em "lung linh
nắng thủy tinh vàng" và màu áo trắng "trong như ánh sao bǎng",
màu "chiều tím loang vỉa hè" và "vàng chiều ngơ ngác giǎng lên
nhịp cầu", màu "thành phố mắt đêm đèn vàng" và "tiếng hát xanh
xao của một buổi chiều"... ông đă thấy "chiều đă đi vào vườn mắt
em... ngàn cây thắp nến lên hai hàng", thấy em "chở chiều trên vai,
ngậm buồn trên môi" và thấy người phu quét lá bên đường đă quét cả nắng
vàng mùa thu, quét cả gió nồm mùa đông, quét cả nắng hồng mùa hạ để góp lá
cho mùa xuân.
Trong mắt ông, bao nhiêu cảnh b́nh thường bỗng hóa ra khác thường, đầy biểu
cảm:
Một chiều xa đă bay về gần
Rơi trên sông rơi sau bờ thành
Nh́n cỏ cây ráng pha màu hồng
Nh́n em áo lụa thinh không
Mặt trời như trái cây tuyệt vọng...
(Níu tay ngh́n trùng)
ôi áo xưa lồng lộng
Đă xô dạt trời chiều
Như từng cơn nước rộng
Xóa một ngày đ́u hiu
(T́nh nhớ)
Thương ai về ngơ tối
Bao nhiêu lá rơi rơi
Thương ai cười không nói
Ngập ngừng lá hôn vai
(Thương một người)
Trịnh Công Sơn tả t́nh, tả tâm trạng với cách riêng. Dân gian có "quen
hơi bén tiếng", Trịnh Công Sơn viết "thương áo quen hơi", để lúc
rời nhau "hồn ḿnh như vá khâu". Ví t́nh như chiếc áo rồi, th́ ngại
ǵ mà không đem "treo t́nh trên chiếc đinh không, phơi t́nh cho nắng khô
mau". Chẳng những "ḷng ta trǎm con hạc gày vút bay", mà cả nụ
cười cũng "vội cất cánh bay" luôn.
Cách dùng từ, ghép từ độc đáo đă biến cái thực thành không thực, và ngược
lại, cái trừu tượng, cái không thể sờ nắm được lại có cơ hội hiện hữu bằng
chất liệu thật - thật mà rất thơ. Nắng trở nên lung linh, lấp lánh hơn khi
được nương nhờ vào vật chất để thành "nắng thủy tinh". Cách nói thông
thường, kiểu như: sống quá nửa đời người, rơ ràng không ấn tượng bằng biến
đời thành đá để có thể diễn tả như Trịnh Công Sơn: "Ta lǎn đời đă quá".
Không biết có phải v́ muốn phá vỡ tính cân bằng, đối xứng, v́ luôn cảm nhận
được sự chông chênh trong ḷng, bấp bênh trong đời và bất định trong t́nh,
nên ông thích xoay nghiêng nhiều thứ: "nghiêng tay, nghiêng vai, nghiêng
đầu, nghiêng sầu, nghiêng t́nh" rồi hỏi: "Này nhân gian có nghe đời
nghiêng?".
Sức tưởng tượng bay bổng được kết hợp với tính linh hoạt trong cách sử dụng
ngôn từ đă làm cho lời ca của Trịnh Công Sơn "chẳng giống ai", đẹp, lạ, và
đôi khi ngữ nghĩa cứ chờn vờn, không dễ nắm bắt. Vẻ mơ hồ, trừu tượng ấy góp
phần không nhỏ làm nên nét độc đáo trong ca từ của ông. ông đưa ra nhiều cụm
từ thật ấn tượng: "vết lǎn trầm, ṿng tiều tụy, bờ mộng mị, vùng ǎn nǎn".
Đôi chỗ tính từ đại diện luôn cho danh từ vắng mặt, càng tǎng thêm vẻ bí ẩn,
"vô thường" cho đối tượng được ám chỉ: yêu dấu tan theo, nghe những tàn
phai, ôm lấy mịt mùng, cười với âm u. Sự bí ẩn c̣n tạo bởi cách diễn đạt
cầu kỳ: "Xin vỗ tay cho đều, môi người thôi những âm ba", và những
h́nh ảnh "kinh dị": loài sâu ngủ quên trong tóc chiều, rồi lại hát lên khúc
ca cuối cùng trong vùng u tối nào đó, đến nửa đêm th́ quên hết ưu phiền
"để người về hát đêm hồng địa đàng c̣n in dấu chân quên".
Sự bí ẩn nhiều khi chỉ để cảm nhận, chứ không thể, hay không cần giải mă cụ
thể, cặn kẽ. Dù không phải tất cả lời ca đều dễ hiểu với bất cứ ai, vậy mà
người ta vẫn cứ nghe, vẫn cứ cảm, vẫn mê say ca khúc Trịnh Công Sơn. Với
ông, thế là đủ, bởi điều quan trọng nhất trong nghệ thuật là "làm thế nào để
mở ra một con đường ngắn nhất đi từ trái tim của ḿnh đến trái tim của người
mà không cần cắt nghĩa ǵ thêm".
Bằng lời ca đầy chất thơ và tính nhân bản, bằng nét nhạc trữ t́nh mềm mại,
không cầu kỳ, vừa gần gũi với tai người Việt, vừa có cái duyên riêng, ca
khúc Trịnh Công Sơn dễ ngấm đọng trong ḷng người. Người nghe không chỉ
thưởng thức, mà đôi khi c̣n cảm thấy như chính ḷng ḿnh đang được hát lên,
và những cảm xúc trong cơi riêng của ḿnh đang được giăi bày... Trịnh Công
Sơn đă và sẽ nói hộ cho nhiều người, nhiều thế hệ. Đúng như linh cảm của
ông: "Tôi mất đi, nhưng tiếng hát c̣n ở lại. ở lại như một chứng tích vừa
buồn bă vừa huy hoàng của một cơi người", và "đó là một cuộc rong chơi ngậm
ngùi của hữu hạn muốn chộp bắt cái vô hạn làm món quà thế chấp cho đời
ḿnh". Và sẽ không quá nếu nói rằng lời ca độc đáo, vừa "thiền" vừa thơ góp phần
quyết định để làm nên một tên tuổi Trịnh Công Sơn.
|