|
Ông từng viết: "Chết êm ái, không làm
bận rộn người đang sống, được chôn cất nơi quê nhà, nằm bên mẹ cha, mươi
năm sau được lăng quên, bên gốc cây cổ thụ, bên đám cỏ, làm bạn với con
trâu già, với đứa mục đồng, hoặc luống rau, luống cải. Ước mơ tự nhiên
chẳng là ǵ cầu kỳ, nhưng mấy ai thực hiện được? Đối với người làm văn
chương, lắm khi thân xác c̣n đó, mạnh khoẻ, nhưng cảm quan đă cằn cỗi,
không lột da được. Kinh nghiệm bản thân của tôi là nên "tập dưỡng sinh"
cho con tim, cho bộ thần kinh trong suốt thời gian quyết định: Giữa 55
và 60 tuổi. Thấy cho được cái mới, v́ đời luôn luôn đổi mới, đồng thời
thấy cho được cái cũ đang được sơn phết, tự nhận là cái mới. Ṭ ṃ, với
nụ cười khoan hoà, không nên luyến tiếc những ǵ gọi là thơ mộng của
thời Trung cổ, đầy rẫy sự áp bức đối với người lao động để đem lại cái
địa vị cho kẻ sĩ..."
------------------------------------
"Sơn Nam là một tâm hồn lạc lơng trong thế giới
buyn-đinh và Mercedes, trong thế giới triết hiện sinh, tranh trừu tượng
và nhạc tuưt. Nhưng đó là một tâm hồn đẹp không biết bao nhiêu, đẹp cái
vẻ đẹp của lọ sứ Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây (có khác lọ hoa Ư Đại Lợi
ngày nay), và ít được người đời thưởng thức hơn là họ đă thưởng thức một
tiểu thuyết gia chuyên viết về chuyện t́nh chẳng hạn. Nhưng phải nh́n
nhận rằng, cái đẹp Sơn Nam bất hủ".
(Nhà văn B́nh Nguyên Lộc nói về Sơn Nam trong tập tạp
văn Gốc cây, Cục đá & Ngôi sao).
--------------------------------------
SƠN NAM - NGƯỜI CỦA NHIỀU THỜI
Không hiểu sao, với nhà văn Sơn Nam, tôi thường nghĩ,
gọi ông là nhà dân tộc học th́ đúng hơn. Tác phẩm của Sơn Nam, dù là
truyện, kư, khảo cứu luôn đậm chất dân tộc học, nói chính xác hơn là nhà
Nam Bộ học.
Nhờ có chút văn hóa miệt vườn, tui mới tồn tại được ở đô
thị Sài G̣n mấy chục năm đó - Có lần nhà văn Sơn Nam tâm sự vậy. Và ông
giải thích, thời trước chế độ kiểm duyệt gay gắt lắm, nên ḿnh phải lẩn
vào đề tài lịch sử, phong tục tập quán, để gửi gắm ư tưởng của ḿnh.
Nh́n vóc dáng nhỏ thó, gầy g̣, nói năng nhỏ nhẹ đến rụt
rè, ít ai biết, ông từng là tỉnh ủy viên tỉnh Rạch Giá, công tác tại xứ
ủy Nam Bộ trong thời kỳ chống Pháp. Nhưng sau đó…
- Sau đó, thời thế thay đổi, Hiệp định Paris kư kết,
phần lớn bộ đội chủ lực chuyển ra miền Bắc, nhiều người chôn súng làm
dân thường, chỉ có những chiến sỹ trung kiên là vẫn bí mật gây dựng cơ
sở chờ thời cơ. Khắp nơi hoan hỉ tưởng đâu, ḥa b́nh sẽ đến với đất này.
Nhưng rồi chính quyền Mỹ- Ngụy xé hiệp định, máy chém dựng lên khắp nơi,
đầu người kháng chiến bị bêu chợ, trên ngă ba đường, xác người nổi nênh
trên kênh rạch. Tui bị chúng bắt. Ông nói.
Kẻ địch đưa Sơn Nam vào Trung tâm cải huấn. Một thời
gian sau, được thả, ông vào Sài G̣n tham gia viết bài cho các báo có xu
hướng tiến bộ như Tiếng Chuông, Lẽ Sống, Nhân Loại. Đến năm 1960, ông
lại bị bắt, chúng đưa ông đến giam ở nhà tù Phú Lợi, chính nơi đây, ông
chứng kiến vụ đầu độc tù nhân vô cùng man rợ. Sau 18 tháng, địch thả ông
ra. Ông lại về Sài G̣n viết văn, viết báo cho đến ngày giải phóng.
Mỗi lần nhắc đến thời kỳ này, Sơn Nam không khỏi bùi
ngùi, nhưng những ai từng sống vào thời kỳ ấy đều tỏ ra thông cảm. Con
người ta h́nh như có một phần số, nói ra tưởng là duy tâm, như quả thật
chúng ta phải công nhận, có ǵ đó như là số phận chi phối đến mỗi con
người.
Có lần, tṛ chuyện với Sơn Nam, nhân lúc ông đang vui v́
bộ hồi kư vừa ra mắt, được đón chào nồng nhiệt và một nhà xuất bản mua
bản quyền toàn bộ tác phẩm Sơn Nam, tôi nói đùa rằng, nếu như năm 1954,
Sơn Nam tập kết ra Bắc, chắc hẳn cuộc đời ông sẽ khác.
Vâng, nếu như ra miền Bắc, Sơn Nam sẽ công tác ở cơ quan
văn hóa, văn nghệ hay báo chí nào đó, và dĩ nhiên ông sẽ đến với những
vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, vùng núi Tây Bắc, Việt Bắc, đến với các trận
địa pháo pḥng không, tác phẩm của ông sẽ phản ánh cuộc sống của nhân
dân và chiến sỹ ngày ấy. Nghe nói vậy, nét mặt ông trầm ngâm, giọng nhỏ
lại: “Con người ta có khi chỉ chậm một chuyến đ̣, số phận đă đổi khác
rồi”. Vâng, lắm khi để tồn tại, con người ta phải sống tùy thời…
Ngày c̣n khỏe, Sơn Nam có qui tŕnh làm việc khá sinh
động. Ông không biết sử dụng xe máy, xe đạp cũng không. Buổi sáng sớm,
ông khoác cái túi gai đă cũ ṃn lững thững ra khỏi nhà đến ngă tư đầu
khu phố, thế nào cũng có một đàn em, hay nói cách khác là đệ tử của ông,
chờ xe máy vào chở ông đến một quán cà phê quen thuộc nào đó.
Hai người vừa điểm tâm sáng vừa tṛ chuyện, v́ Sơn Nam
có lúc quên tên tuổi người chở ḿnh đến đây, nên phải gợi chuyện, chắp
nối trí nhớ một hồi mới nhận ra. C̣n người kia, quí nhà văn qua tác phẩm
và muốn thưởng thức những câu chuyện bao giờ cũng sinh động v́ ông già
Sơn Nam biết đưa đẩy câu chuyện cho thân mật, biết trân trọng người đối
thoại.
Và, chỉ một lúc sau, thế nào cũng có người khác đến tham
gia, thế rồi người kia giao ông cho người mới đến để đi công chuyện.
Người mới đến tṛ chuyện với ông một lát rồi chở ông đến nơi nào đó,
thường là quán ăn trưa có văn nghệ sỹ hay ngồi và thả ông xuống. Thế nào
cũng có người tới gặp ông tṛ chuyện tiếp.
Và, cứ người này giao ông cho người kia đến cuối ngày
một người chở ông về cái ngă tư gần nhà thả ông xuống. Trong một ngày
như vậy, ông có thể được mấy tờ báo đặt bài.
Ở Sài G̣n có nhiều quán cà phê dành cho giới làm báo như
ở đường Trần Quốc Thảo, Hồ Xuân Hương, Lư Chính Thắng. Hàng ngày, giới
viết lách, nhiều người thuộc diện làm báo tự do, nghĩa là không thuộc
ṭa soạn báo nào cả, đến đây đàm đạo và trao đổi, đặt bài.
Có người gọi đây là chợ chữ cũng đúng. Cái chợ chữ này
hết sức thú vị v́ người đặt bài, người lănh viết đều hiểu nhau và cư xử
ṣng phẳng. Theo Sơn Nam, h́nh thức chợ chữ này có từ những năm sáu mươi
của thế kỷ trước ở Sài G̣n.
Sơn Nam thường đến đây gặp gỡ bạn đồng nghiệp. Nếu cả
tuần tui không ghé đó buổi nào, coi như khó có hứng để viết. Ông tâm sự
vậy. Sơn Nam cũng là người viết tự do, báo nào đặt bài, thấy kham được
là ông nhận và rất đúng hẹn.
Là một người từng làm báo lâu năm, ông hiểu rất rơ khẩu
vị từng tờ báo, từ đề tài, giọng điệu, đến độ dài của từng bài. Tuy vậy,
viết để sống hàng ngày, để có tên ḿnh trên báo cho bạn đọc khỏi quên,
nhưng Sơn Nam không bao giờ viết ẩu, viết cho xong chuyện, mà ông luôn
nhắm đến một cuốn sách, các bài báo ấy sẽ được gom lại, tập hợp thành
một cuốn sách. Cứ thế, vài ba năm, ông lại cho ra mắt một cuốn sách.
Sơn Nam là một trong số những nhà văn từng sống ở đô thị
miền Nam nhưng tác phẩm vẫn được in liền mạch sau giải phóng, điều đó
không phải dễ. Trước hết, tác phẩm của Sơn Nam không thuộc dạng a dua.
Sống dưới chế độ ấy mà tránh được lối viết ấy quả là rất cao tay. Có lần
người viết bài này hỏi vậy, Sơn Nam cười nhẹ, cũng chẳng giỏi giang ǵ
đâu mà tôi chủ yếu viết về phong tục, về lịch sử khai khẩn đất đai Nam
Bộ, và nếu là truyện th́ đi vào tầng lớp nông dân, dân nghèo thành thị.
Đúng vậy, với mảng sách văn học từ Hương rừng Cà Mau,
NXB Phù Sa, Sài G̣n 1962, đến Mảnh t́nh riêng, NXB Văn Nghệ TP. Hồ Chí
Minh 2000, Sơn Nam luôn đi vào cuộc sống giới b́nh dân, những người mà
theo ông, làm nên nền tảng vững chắc của mọi xă hội.
Có phải vậy chăng, mà tác phẩm văn học của Sơn Nam luôn
được đông đảo bạn đọc là tầng lớp lao động đón nhận. Trong các tác phẩm
của Sơn Nam, phong tục tập quán, từ cách ăn mặc, lễ hội đều được đề cập.
Chính phong tục đă làm cho tác phẩm không chỉ mang đậm tính dân tộc mà
người đọc cảm thấy gần gũi, ấm áp trên từng trang văn.
Về truyện ngắn, tập Hương rừng Cà Mau, tập 1, xuất bản
năm 1962, gây tiếng vang lớn, sau giải phóng ông viết thêm 2 tập, bao
gồm 66 truyện, vẫn với bút pháp cũ, câu chuyện có lớp lang hơn, tay nghề
cao hơn nhưng chất trẻ hồn nhiên không bằng tập đầu. Nhưng ông đă có
những truyện ngắn đặc sắc như Hát bội giữa rừng, Mùa len trâu, Cây huê
xà.
Sơn Nam c̣n viết một số tiểu thuyết, trong đó có cuốn Bà
Chúa Ḥn, viết về vùng đất phía Tây Nam giai đoạn giữa thế kỷ XIX, khi
thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược nước ta. Tiểu thuyết của Sơn Nam
ít xung đột, nhân vật hiện qua lời kể đều đều của tác giả nên không nổi
bằng truyện ngắn.
Nhắc đến Sơn Nam, người ta không thể không ghi công lao
của ông về mặt khảo cứu. Mảng sách biên khảo của ông đồ sộ đến độ nhiều
nhà nghiên cứu phải phát ghen lên. Ông chủ yếu khảo sát, nghiên cứu về
lịch sử khai khẩn đất Nam Bộ, về văn hóa miệt vườn. Bộ sách T́m hiểu đất
Hậu Giang, bao gồm 2 tập, do NXB Phù Sa in lần đầu từ 1959, gây tiếng
vang lớn trong giới nghiên cứu lúc bấy giờ, đến nay vẫn được coi là tài
liệu quí nghiên cứu về vùng đất bên sông Hậu.
Kế đó là tập Lịch sử khẩn hoang miền Nam, NXB Đông Phổ
1970, đến nay đă được tái bản nhiều lần. Sơn Nam c̣n có những cuốn biên
khảo như Đất Gia Định xưa, Bến Nghé xưa; Nghi thức và lễ bái của người
Việt; Phong trào Duy Tân ở Bắc, Trung, Nam; Người Việt có dân tộc tính
không... Tất cả được Nhà XB Trẻ đă gom thành tuyển, bao gồm mười tập.
Hiếm có một nhà nghiên cứu nào ở Nam Bộ và ở nước ta có công tŕnh đồ sộ
như thế.
Nhà văn viết nghiên cứu, khảo cứu có ưu điểm là được
diễn đạt với giọng văn trôi chảy, bên cạnh những số liệu khô khan là
những chi tiết đời sống rất văn học, lời diễn giải có khi khá hóm hỉnh.
Các công tŕnh của Sơn Nam có ưu điểm là dễ tiếp thu, cho dù đây đó, tác
giả lạm dụng văn, khiến nhiều trang giống như bút kư, tùy bút.
Sơn Nam thường khuyên cây bút trẻ là dù viết ǵ cũng nên
viết bằng giọng văn lịch lăm. Muốn có văn lịch lăm phải có vốn sống, vốn
văn hóa sâu rộng. Nhiều đoạn trong biên khảo của Sơn Nam văn hay như văn
bút kư, nhưng vẫn chính xác...
Sơn Nam vừa làm nghề vừa rút ra bài học cho chính ḿnh,
trong các tác phẩm của ông, xen kẽ những trang văn, những trang hồi kư
là quan niệm về nghề văn: “Văn xuôi vào tâm hồn ta chậm chạp, sâu lắng,
khó quên, trong khi điện ảnh gây ấn tượng nhanh. Bởi vậy, người viết văn
với giấy trắng mực đen phải chăng làm công việc thấm thía.. ngàn năm” .
“Người viết cần đọc sách nước ḿnh, nước ngoài, xưa và
nay. Riêng về văn chương cổ điển và dân gian th́ không được bỏ sót. Nếu
thiếu căn bản tối thiểu, có thể ngẫu hứng làm vài bài thơ hay, vài
truyện ngắn xuất sắc, nhưng về lâu về dài lần đuối sức”. “Đọc văn, đọc
thơ của người lịch lăm, có kiến thức thấy thân mật, ngọt ngào”. Đấy là
những kinh nghiệm của một nhà văn rất có ích cho người viết trẻ.
...Bề ngoài, ông già Sơn Nam, như cách gọi của đồng
nghiệp trẻ ở thành phố này, gầy yếu, nhưng ông không bao giờ chịu ngồi
một chỗ. Ông tích cực tham gia các lễ hội lớn và các lễ cúng bái, rước
lễ khánh thành đ́nh chùa, lăng miếu. Trong những khi cúng đơm, ông mặc
áo dài đen, khăn đóng, vái lạy, đọc văn tế như một thầy cúng thực thụ.
Chính những lúc ḥa ḿnh vào dân gian như vậy, ông thâu lượm được rất
nhiều chất liệu, tư liệu về h́nh thành đất đai, làng ấp và cả văn hóa,
phong tục Nam Bộ.
Sài G̣n, 27/10/2007
Trich tu http://www.vannghesongcuulong.org.vn
|