|
------------------------------------------
Sài g̣n… hẻm!
Nguyễn
Thị Lan Anh
Chưa bao giờ Sài g̣n
lại kẹt xe dữ dội như hiện nay. Bất
cứ giờ nào đường xá cũng dầy
đặc xe cộ. Để không lỡ buổi họp
làm ăn, vào lớp không trễ, khám bệnh đúng
lịch hẹn, rước dâu ngay giờ lành… đ̣i
hỏi người Sài G̣n phải thuộc nhiều
đường hẻm. Hẻm Sài G̣n- tiếng Hà Nội
gọi là ngơ (nhỏ hơn ngơ, từ ngơ tẽ vào th́
gọi là ngách), tiếng Huế gọi là kiệt – có lắm
điều hay.
Từ đầu
hẻm vào
Bất cứ là hẻm to hay nhỏ, hẻm nội hay
ngoại thành, hẻm Việt hay Hoa, hẻm mới hay
cũ, hẻm quan hay dân th́ ‘cơ cấu’ hẻm Sài G̣n
cũng na ná giống nhau. Trấn ngay đầu hẻm là
đội quân xe ôm, đôi khi treo tấm biển
"tổ xe ôm tự quản" (khách xa không hiểu
nghĩa ‘tự quản’ là ǵ. Xin mách, nó là ‘t́nh báo’, có chức
năng cung cấp tin chích choác, rải truyền
đơn, ăn cướp ăn trộm, chứa
bạc chứa gái cho công an). Nếu hẻm rộng
chừng đôi ba thước th́ đầu hẻm
thường ‘mọc’ thêm quán cà phê, bún cháo, ḿ miến.
Gọi quán, nhưng chỉ vài cái ghế gỗ, ghế nhựa,
đôi khi không có bàn, hoặc lấy ghế làm bàn, kê
dọc theo vách tường căn nhà đầu hẻm,
Người ngồi ăn uống có thể bị xe
cộ ra vào hẻm va quẹt, móc áo quần đầu tóc
bất cứ lúc nào. Trên cao, có thể treo biển
quảng cáo các loại, cũng có thể là cờ báo hung
tin. Nếu nhà đạo Thiên chúa th́ treo cờ đen, c̣n đạo Phật, hay không có
đạo th́ cờ ngũ sắc. Sáng kiến treo cờ
đầu hẻm này rất tiện, v́ giúp người
đi viếng đám dễ dàng nhận biết
điểm đến thay v́ phải ḍ dẫm t́m số
nhà lâu lắc.
Dọc theo hẻm lớn, có cột đèn, có
tường gạch trơn tru, th́ thể nào cũng có
mấy địa chỉ khoan cắt bê tông, hút hầm
cầu, dạy thêm mọc tùm lum trên đó. Ngày xưa,
hẻm có thể "đêm khuya ngơ sâu như không
mầu" như Phạm Đ́nh Chương đă
tả trong bài hát ‘Xóm Đêm’. Ngày nay, bước chân vào
hẻm nội đô Sài G̣n sẽ thấy khác v́ đèn cao
áp sáng sủa, nền đường hầu hết tráng
xi măng, tráng nhựa. Từ khi thành phố có chủ
trương mở rộng, nâng cấp hẻm để
giảm kẹt xe, dễ chữa cháy, bớt ngập
lụt th́ hàng loạt hẻm Sài G̣n được ‘lên
đời’.
Ngoài đường lớn có ǵ, trong hẻm có đó,
cũng trường học, chùa chiền, chợ búa, pḥng
mạch bác sĩ, tiệm uốn tóc. Taxi, xe gắn máy, xe
ba gác bấm c̣i, xả khói mù trời, chạy như ăn cướp. Điển h́nh là hẻm
Cô Giang thuộc phường 2 quận Phú Nhuận.
Đầu hẻm có xe ôm, quán chè cháo, cà phê. Đi vào hai
thước, bên tay trái, tới lăng Vơ Di Nguy (một
khai quốc công thần của vua Gia Long, tước B́nh Giang
Quận Công, lăng do đích thân Tổng trấn Gia
Định Lê Văn Duyệt đứng ra xây). Thêm
chục thước nữa, là nhà thờ Phú Hải.
Từ đó dài tới cuối hẻm là chợ (sau
năm 75, nhiều đời chủ tịch
phường 2 đă thề dẹp chợ này nhưng
rốt cuộc không thành). Nhà dân hẻm đồng
thời là quán ăn, tiệm chạp phô, tiệm may,
tiệm thuốc tây, ḷ bánh ḿ Người lạ vào
hẻm Cô Giang không khác chim chích vào rừng, chỉ cần
qua hai ba dăy nhà khuất khúc là lạc ngay sang địa
phận hẻm Cô Bắc, Xưởng Nhôm, không thôi sang
chùa Bà Đầm. C̣n lùi lại, quẹo bên phải sẽ
vào xóm Mả, xóm Cầu tiêu. Đi thêm một đỗi
là gặp chùa Từ Vân, rồi tới nhà cũ của
nghệ sĩ Kim Cương. Cũng có thể lái xe
từ hẻm Cô Giang, luồn lách một hồi, sang
thấu cư xá Chu Mạnh Trinh- nơi cư ngụ
của các văn nghệ sĩ giầu có, nổi danh trong
làng báo, làng văn, làng nhạc trước 75 như
Phạm Duy, Duyên Anh, bà Tùng Long, Tuấn Khanh Từ cư xá
này ra, đụng liền Ngă tư Phú Nhuận.
Hẻm b́nh dân
Đă là người Sài G̣n, không ai không từng ở
hẻm. Ở chung thân măn kiếp, hay tạm thời th́
cũng là ở. Nhưng không phải bạ loại
hẻm nào cũng an cư
được, mà c̣n phải xem người ở là ai.
Nếu thu nhập trung b́nh, làm nghề tự do, th́ thích
hợp nhất, có lẽ nên chọn những hẻm
thuộc quận B́nh Thạnh, G̣ Vấp, Tân B́nh.
Nhà trong những hẻm này diện tích thường
nhỏ, kiểu "hai nhà ba vách", ít tḥ thụt nhấp
nhô, ít nuôi chó mèo. Nhiều nhà "tam đại
đồng đường" chen chúc, ban ngày túa đi
kiếm sống, tối tụ về đủ mặt,
mặc quần áo ‘thiếu vải’, bưng cơm ra
đầu hè vừa ăn vừa ‘tám’ chuyện ngoại
t́nh, đổi tiền đô, vàng lên giá, du lịch
nước ngoài, sữa hàm lượng đạm
thấp, sửa mũi bơm ngực… Hạng nhất là
mấy vụ bán độ bóng đá, đời tư
diễn viên, hậu trường chính trị… ngồi nghe
hăng thông tấn hẻm ‘b́nh loạn’, bảo đảm
sướng tai bằng mấy báo đài chính thống.
Nhất là khi các ‘b́nh loạn gia’ đă ‘sương
sương’ rượu thuốc, mực nướng,
hột vịt lộn.
Mỗi hẻm, tuỳ vị trí địa lư mà toát ra
một mùi riêng – hẻm chợ Ông Tạ có mùi chó thui,
hẻm góc Cao Thắng – Điện Biên Phủ lừng
lẫy mùi cari, bột quế, bột hồi, xóm "Đường
rầy xe lửa" đường Thích Quảng
Đức thoảng mùi bánh tráng nướng, hẻm chùa Vĩnh
Nghiêm sực nức mùi nhang… Nhưng hẻm xóm nào cũng
chung những tiếng rao của đội quân xe
đạp, gióng gánh. Sáng hay đêm, mưa hay nắng, ḥa
b́nh hay tao loạn th́ cũng những tiếng rao
"chưng – gai – gị", bánh ḿ nóng gịn, chè đậu
đen nước dừa đường cát, tầu
hũ, mài dao kéo, đấm bóp, keo dính chuột, vé số
chiều xổ, ve chai. Tiếng rao, giọng rao, nội
dung rao càng ‘độc’ càng dễ bán được hàng,
nhất là khi cất lên đúng giờ nhất
định, th́ c̣n được người mua
đồng hóa với chiếc đồng hồ.
Chẳng hiếm vụ án
được khai với công an ‘lúc đó tui đang
ngủ lơ mơ, nghe rao "chó bán đi, mèo để
lại" biết là ba giờ trưa. Tính ngồi
dậy th́ nghe la bớ người ta….
Hẻm b́nh dân so với hẻm giầu, hẻm ngoại
kiều, có vẻ ấp ủ trong ḿnh nhiều hỉ
nộ ái ố nhất. Đó là nơi ở chung ở
lộn, giấu tung tích, gây dựng cơ sở của
"các bố nằm vùng". Đồng thời là
nơi náu nương của nghệ sĩ lang thang,
độc đáo như nhà văn Sơn Nam xóm Hói- G̣
Vấp, nhà thơ Bùi Giáng trong hẻm Lư Thái Tổ (hồi
ở cùng thầy Thanh Tuệ nxb An Tiêm). Rồi Mạc
Can, Kiên Giang (Hà Huy Hà), Ngô Vũ Cầu Kẻ mất,
kẻ sắp ‘lên đường’, kẻ sống thiên
nhai hải giác.
Hẻm ngoại
Khác hẻm nội, các hẻm ngoại thành – gần làng
đại học, khu công nghiệp, sân bay, tuy không có
lịch sử lâu đời, nhưng lại được
tiếng năng động nhờ dịch vụ cho thuê
pḥng, thuê gác, thuê nhà. Chủ nhà sẵn ḷng sắm vai gác dan
kiêm tạp vụ, nấu cơm tháng cho khách. Điển
h́nh là khu vực phường 4 quận Tân B́nh gần sân
bay Tân Sơn Nhất. Người quận 5, quận 6,
quận 11 quen sống chật chội như hang
chuột, có dịp đến hẻm Nguyễn Cảnh
Dị phường 4 cứ suưt soa "chết thật! hẻm ǵ toàn 8 thước 10 thước,
to đẹp hơn đường cái". Chủ nhà
ở đây rất chiều khách, nhất là khách
ngoại. Hôm nay nhà cuối hẻm gọi thợ
đập phần nhà ngang, xây nối với pḥng khách
"theo yêu cầu của thằng Kim Choo Song", mai
tới phiên nhà đầu hẻm chí chát phá nhà, xây lại,
‘kính hóa’ toàn bộ cửa lớn cửa bé v́ "ông Wang
Zhong đ̣i thế". Người trong các hẻm "có
yếu tố nước ngoài" này vô h́nh trung phân chia
làm ba hạng. Chủ nhà người Bắc, là
đảng viên, cán bộ quân đội, nhân viên sân bay.
Người thuê nhà là Hàn Quốc (70%). Người buôn bán,
làm dịch vụ, làm ‘Ôsin’ nói tiếng Quảng Ngăi, Thanh
Hóa, B́nh Định. Ba hạng, ba thân phận khác nhau, không
qua lại giao du, chỉ nhờ đồng tiền làm
gạch nối duy nhất. Nay thuê, mai dọn đi. Nay giá
này, mai giá khác. Nay cho ở, mai dọa đuổi. Cứ
thế ỏm tỏi, ́ xèo. Lâu dần, hẻm toàn mặt
lạ. Không t́nh nghĩa, không hỏi chào, không sợ dư
luận.
Cũng là hẻm ngoại, nhưng không phải ngoại quốc,
mà chỉ ngoại tỉnh. Dân hẻm toàn công nhân mới
mất việc, đang t́m việc, bị giăn việc,
sống lắt lay như lá vàng sắp rụng ở G̣
Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè. Vào hẻm như lạc
vào thế giới khác – rặt mùi ḿ gói, tiếng than văn,
tiếng thở dài, sụt sịt. Lướt qua dăy pḥng
thấp, chia ngăn như chuồng gà tạm bợ,
mỗi ngăn đủ kê chiếc giường, cái valy,
nồi cơm điện và chiếc quạt máy, một
chị bạn đi cùng xót xa hỏi kẻ viết bài
"làm sao họ sống nổi nhỉ". Câu hỏi
đáng bị đánh đ̣n v́ người hỏi tỏ
ra có quốc tịch… cung trăng, nghĩa là không hiểu
thực tế chút nào. Cụ Bá, ngồi chơi
đầu hẻm, 78 tuổi, cười hệch hạc
phô hàm răng cải mả cho biết "cả nhà, con
gái, con trai, các cháu, vị chi 7 người, thuê cái pḥng 4mét
x 4mét, nóng hầm hập, điệïn nước rất
yếu, cầu xí không có. Mưa xuống nước
ngập đen ng̣m, đồ chất hết lên
giường. Mẹ con bà cháu ngủ ngồi suốt.
Thế mà gần bảy trăm ngàn một tháng". Nh́n
không thấy tên đường, tên hẻm, kẻ
viết bài hỏi cụ Bá "nó là cái hẻm ǵ hả
cụ?". Bà cụ quê Hà Nam
cười cười, nói dằn từng tiếng,
nặng trịch "Hẻm ǵ, hẻm không tên, hẻm
khổ, hẻm chết đói chứ hẻm ǵ!"
Những hẻm loại này, không hề là hiện
tượng, mà chính nó đang cấp báo t́nh trạng
bất ổn trong ḷng một đô thị
được tiếng năng động. Việc
chăm sóc phúc lợi của dân ngụ cư, hầu
hết đều "hữu thân hữu khổ phàn nàn
cùng ai", thay v́ trông vào hàng ngũ cán bộ thôn ấp-
những đầy tớ dân chỉ 200.000 đồng
ăn tết cho mỗi người nghèo cũng không
nỡ đưa trọn cho họ (tới nay, chỉ
mới 27/64 tỉnh thành cả nước báo cáo lên chính
phủ về chuyện xà xẻo tiền tết này).
Sài g̣n đang ở vào những ngày cuối tháng hai.
Nhiệt độ vọt lên 35 độ, nóng nung
người. Đi ngoài đường bụi mù mịt,
xe nhích từng bước mỏi mệt, kẻ viết
bài chỉ mong rẽ vào những con hẻm mang tên cây
cỏ xanh tươi, t́m chút bóng mát và sự yên tĩnh.
Nhưng c̣n đâu! Những hẻm Cây Điệp, Ngă ba
Vườn Lài, Cây Da Sà (‘sà’ là thấp xuống,
đọc ‘xà’ không đúng), đường Hàng Thị
(đường phía trước chợ Bà Chiểu,
trồng hàng cây thị), Hàng Sanh, (Sanh là tên một loại
cây, nay quen đọc Hàng Xanh với nghĩa màu xanh!), Hàng G̣n,
Hàng Keo đều đă không c̣n, hoặc đang trong t́nh
trạng "hồn Trương Ba, da hàng thịt".
Cuộc sống đô thành, nói cho cùng, như ḍng sông
mải mốt chảy. Hẻm cũng là dạng mạch
sông, mạch máu, mạch đời. Nó cũng phải
chảy, dù khó nhọc, đục ngầu, bập
bềnh rều rác. Ngồi trên bờ…hẻm,
người yếu vía, có lẽ đừng soi mặt
ḿnh xuống đó.(NTLA)
ST ! ( Nguyễn Thị Lan Anh )
|